Những điểm mới của luật xử lý vi phạm hành chính so với pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính. - Cổng thông tin điện tử - Sở Xây Dựng - Vĩnh Phúc

Những điểm mới của luật xử lý vi phạm hành chính so với pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.

08/12/2014

Ngày 20/6/2012, tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013; riêng đối với quy định về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2014.

Luật xử lý vi phạm hành chính được ban hành đã kế thừa những quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1989, đồng thời đã bổ sung những điểm mới đáng chú ý sau:

1. Phần những quy định chung:

- Luật XLVPHC đã dành riêng một điều (Điều 2) đề giải thích một số thuật ngữ như: vi phạm hành chính, tái phạm, vi phạm hành chính nhiều lần, tình thế cấp thiết, người đại diện hợp pháp, người nghiện ma túy, người không có năng lực trách nhiệm hành chính. Theo đó, Luật quy định tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị xử lý vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định này mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử lý. Luật cũng quy định rõ vi phạm hành chính nhiều lần là trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi hành chính mà trước đó đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử lý.

- Tại Điều 3 Luật XLVPHC, ngoài những nguyên tắc đã được ghi nhận tại Pháp lệnh XLVPHC như: Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện và xử lý kịp thời, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra đều phải được khắc phục; việc xử lý vi phạm phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hành thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả thích hợp, thì Luật XLVPHC còn bổ sung một số nguyên tắc mới như: công bằng, công khai; người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính; cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính; đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Việc bổ sung một số nguyên tắc như nêu trên là cần thiết, để khắc phục tình trạng cơ quan hành chính ban hành quyết định xử phạt mang tính đơn phương, áp đặt ý chí chủ quan của người có thẩm quyền xử phạt. Mặt khác, việc xử lý vi phạm hành chính liên quan trực tiếp đến danh dự, quyền tự do cơ bản của công dân, cần được tiến hành dân chủ, khách quan, chính xác, trên cơ sở xác minh rõ vụ việc, bảo đảm nguyên tắc “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” theo quy định tại Điều 52 Hiến pháp năm 1992.

- Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính (Điều 6), nhìn chung, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước là 01 năm; tuy nhiên, để đảm bảo cho việc xử lý vi phạm hành chính được triệt để, Luật XLVPHC cũng quy định một số trường hợp như: Vi phạm hành chính về kế toán, thủ tục thuế, phí, lệ phí, kinh doanh bảo hiểm, chứng khoán, xây dựng, bảo vệ môi trường, đất đai…thì thời hiệu xử phạt là 02 năm. Mặt khác, nhằm khắc phục tình trạng hiểu và áp dụng thiếu thống nhất như quy định của Pháp lệnh XLVPHC, Luật quy định rõ thời điểm để tính thời hiệu xử lý vi phạm hành chính; theo đó, đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm, đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.

- Để hạn chế tối đa việc vi phạm pháp luật, lạm quyền của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong khi thi hành công vụ, Luật bổ sung một điều quy định các hành vi nghiêm cấm (Điều 12), bao gồm 12 khoản, trong đó 10 khoản quy định các hành vi bị nghiêm cấm đối với người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính như: Giữ lại các vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử phạt vi phạm hành chính; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi nhận tiền, tài sản, dung túng, bao che hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử phạt vi phạm hành chính hoặc khi áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính; ban hành trái thẩm quyền các văn bản quy định về  hành vi vi phạm hành chính,thẩm quyền, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính; can thiệp trái pháp luật việc xử lý vi phạm hành chính…

- Luật XLVPHC bổ sung một điều quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Điều 13) và một điều quy định về hiệu lực của Luật đối với những hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ việt Nam (Điều 20). Theo đó, người vi phạm hành chính nếu gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy dịnh của pháp luật dân sự. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Đối với hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật này.

- Luật XLVPHC quy định việc quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, theo dõi, kiểm tra, báo cáo, thống kê, xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính. Đây là một điểm mới, có ý nghĩa hết sức quan trọng về nhiều mặt, như: phục vụ cho việc thống kê, chỉ đạo công tác quản lý nhà nước, xem xét tình tiết tăng nặng, xác định yếu tố “đã xử phạt vi phạm hành chính” làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự trong hơn 70 điều, khoản của Bộ        luật hình sự (BLHS). Luật XLVPHC quy định trách nhiệm quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (Điều 17). Theo đó, Chính phủ có trách nhiệm thống nhất quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ trong việc thực hiện công tác này, bao gồm: xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, theo dõi báo cáo công tác xử lý vi phạm hành chính, thống kê, xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính v.v…

Các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra…việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ được giao.

- Luật XLVPHC còn quy định rõ trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị; trách nhiệm của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác xử lý vi phạm hành chính (Điều 18), giám sát công tác xử lý vi phạm hành chính (Điều 19).

2. Về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả

- Về cơ bản, Luật XLVPHC vẫn giữ nguyên các hình thức xử phạt vi phạm hành chính như quy định của Pháp lệnh XLVPHC. Tuy nhiên, so với Pháp lệnh thi Luật XLVPHC có điểm mới sau đây:

+ Hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ  hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; hình thức xử phạt tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính được quy định vừa là hình thức xử phạt chính vừa là hình thức xử phạt bổ sung.

+ Bổ sung hình phạt mới là đình chỉ hoạt động có thời hạn để áp dụng đối với trường hợp hoạt động của cá nhân, tổ chức vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ mà theo quy định của pháp luật  phải có giấy phép (đình chỉ một phân hoạt động), hoặc được áp dụng đối với trường hợp hoạt động của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc họa động khác mà theo quy định của pháp luật không phải có giấy phép và hoạt động đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người, môi trường và trật tự, an toàn xã hội (đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động).

- Về mức phạt tiền và mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước

Theo quy định tại Điều 23 Luật XLVPHC thì mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính từ 50.000đồng đến 1.000.000.000 đồng với cá nhân, từ 100.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng với tổ chức, trừ các lĩnh vực thuế; đo lường; sở hữu trí tuệ; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; hạn chế cạnh tranh mức phạt tiền tối đa theo quy định tại các luật tương ứng. Đối với khu vực nội thành của thành phố trực thuộc trung ương thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Như vậy, so với Pháp lệnh XLVPHC thì Luật XLVPHC đã nâng mức phạt tiền tối thiểu từ 10.000 đồng lên 50.000 đồng; nâng mức phạt tiền tối đa từ 500.000.000 đồng lên 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức. Đồng thời, quy định cơ chế đặc thù về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, môi trường, an ninh, trật tự, an toàn xã hội đối với khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc trung ương nhằm đảm bảo hiệu quả của việc xử phạt vi phạm hành chính, đáp ứng yêu cầu phòng, chống vi phạm hành chính trong giai đoạn hiện nay.

Đối với quy định về mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, Luật XLVPHC tiếp tục kế thừa Pháp lệnh XLVPHC về việc quy định khống chế mức phạt tiền tối ta với các hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhưng các lĩnh vực quản lý nhà nước đều được nâng mức phạt tiền tối đa cho phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm của hành vi trong các lĩnh vực đó (lĩnh vực an ninh, trật tự nâng từ 30.000.000 đồng lên 40.000.000 đồng, lĩnh vực giao thông đường sắt; giao thông đường thủy nội địa từ 40.000.000 đồng lên 75.000.000 đồng…).

Đối với những lĩnh vực quản lý các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam; quản lý hạt nhân và chất phóng xạ, năng lượng nguyên tử; tiền tệ, kim loại quý, đá quý, ngân hàng, tín dụng; thăm dò, khai thức dầu khí và các loại khoáng sản; bảo vệ môi trường, mức phạt tối đa được quy định là 1.000.000.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Đối với lĩnh vực thuế, đo lường, sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, chứng khoán, hạn chế cạnh tranh thì áp dụng theo quy định tại các luật tương ứng.

+ Đối với các lĩnh vực hoặc nhóm hành vi vi phạm hành chính mới chưa được quy định trong Luật thì giao cho Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm sự linh hoạt và bao quát, không bỏ sót các hành vi vi phạm hành chính mới xuất hiện.

- Về các biện pháp khắc phục hậu quả

Các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định từ Điều 28 đến Điều 37 của Luật. Ngoài 04 biện pháp khắc phục hậu quả như quy định của Pháp lệnh XLVPHC, Luật XLVPHC còn bổ sung 05 biện pháp khắc phục hậu quả: buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo chất lượng; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.

3. Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định từ Điều 38 đến Điều 54. So với Pháp lệnh XLVPHC thì Luật XLVPHC có những điểm mới sau:

- Tăng thẩm quyền xử phạt cho cấp cơ sở, nhất là các chức danh trực tiếp phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính, nhằm góp phần cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho người bị xử phạt nhanh chóng thi hành quyết định xử phạt, nâng cao tính kịp thời và hiệu quả của việc xử phạt vi phạm hành chính, giảm tình trạng dồn việc xử phạt lên cấp trên.

- Về các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Luật XLVPHC cơ bản vẫn giữ các cơ quan, chức danh có thẩm quyền xử phạt như quy định của Pháp lệnh, song có sửa đổi, bổ sung một số cơ quan, chức danh khác có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho phù hợp với Luật thanh tra, một số luật khác được Quốc hội thông qua trong thời gian qua và thực tiễn hiện nay.

Riêng đối với thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân, Luật đã bổ sung một số chức danh cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Bộ Công an hiện nay như sau:

Bổ sung thẩm quyền xử phạt của Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục cảnh sát đường thủy, Trưởng phòng các phòng Anh ninh chính trị nội bộ, An ninh kinh tế, An ninh văn hóa tư tưởng, An ninh thông tin, Trưởng phòng cảnh sát bảo vệ và cơ động, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn trên sông, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy các quận, huyện thuộc Sở Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy, Cục trưởng các Cục An ninh chính trị nội bộ, An ninh kinh tế, An ninh văn hóa, tư tưởng, An ninh thông tin, Cục Trưởng Cục cảnh sát bảo vệ và cơ động, Cục trưởng Cục cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Luật vẫn tiếp tục giao thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất cho Giám đốc Công an tỉnh, Cục Trưởng Cục Quản lý xuất cảnh, nhập cảnh Bộ Công an.

Nhằm đảm bảo tính linh hoạt trong việc áp dụng quy định về thẩm quyền xử phạt, một trong những điểm mới của Luật XLVPHC là trong trường hợp có thay đổi tên gọi của chức danh có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính quy định tại Luật này, thì chức danh được thay đổi có thẩm xử phạt (Điều 53).

4. Thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

- Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính gồm 14 điều (từ Điều 55 đến Điều 68)

So với Pháp lệnh XLVPHC, Luật XLVPHC có một số điểm mới sau đây:

+ Thứ nhất, bổ sung các quy định về hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính; xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính; xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt; giải trình; những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Các quy định này tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành Pháp lệnh; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị xử phạt vi phạm hành chính nâng cao trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt.

+ Thứ hai, quy định rõ, cụ thể việc xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, nhằm bảo đảm cho việc xử phạt chính xác, áp dụng thống nhất, tạo sự bình đẳng trong xử phạt vi phạm hành chính.

+ Thứ ba, nâng mức phạt tiền cao hơn trong trường hợp không phải lập biên bản vi phạm hành chính (đến 250.000 đồng đối với cá nhân, đến 500.000 đồng đối với tổ chức).

- Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính gồm 17 điều (từ Điều 69 đến Điều 85). Một số điểm mới trong các quy định về Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại Luật XLVPHC so với Pháp lệnh:

+ Thứ nhất, đề cập một cách đầy đủ, cụ thể việc việc thi hành các hình phạt và biện pháp khắc phục hậu quả mà trước đây Pháp lệnh quy định còn chung chung hoặc thiếu.

+ Thứ hai, bổ sung một số quy định: Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp người bị xử phạt chết, mất tích, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản; hoãn thi hành quyết định phạt tiền; giảm, miễn tiền phạt; công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính.

- Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính gồm 3 điều (từ Điều 86 đến Điều 88); trong đó đề cập tới việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thi hành quyết định cưỡng chế và thẩm quyền quyết định cưỡng chế.

5. Về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

Luật XLVPHC vẫn giữ nguyên 04 biện pháp xử lý vi phạm hành chính như Pháp lệnh XLVPHC. Tuy nhiên, Luật XLVPHC có một số điểm mới sau đây:

- Về tên gọi, đổi tên biện pháp “ Đưa vào cơ sở giáo dục” thành “Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc”; đổi tên biện pháp “Đưa vào cơ sở chữa bệnh” thành “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” cho chính xác và phù hợp với đối tượng đã thu hẹp (bỏ người mại dâm) của các biện pháp này.

- Về đối tượng, Luật đã bỏ một số đối tượng bị áp dụng các biện pháp này, cụ thể như sau:

+ Không áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người từ đủ 12 tuổi đến 14 tuổi thực hiện hành vi  có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại BLHS hoặc nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng; người bán dâm.

+ Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do vô ý quy định tại BLHS; Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại BLHS mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng do vô ý quy định tại BLHS mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định.

+ Không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện; phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đó cư trú xác nhận.

+ Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bán dâm.

- Về thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính: Luật XLVPHX có những điểm mới sau đây:

Thứ nhất, sau khi hoàn tất việc lập hồ sơ, cơ quan đã lập hồ sơ phải chuyển hồ sơ đó đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã để giao cho công chức tư pháp-hộ tịch kiểm tra hồ sơ (đối với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn), chuyển hồ sơ đến Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện để kiểm tra tính hợp lý của hồ sơ.

Thứ hai, công chức tư pháp-hộ tịch có trách nhiệm tổ chức cuộc họp tư vấn để Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Trưởng Công an cấp huyện (đối với biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc), Trưởng phòng Lao động- Thương binh xã hội (đối với biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc) có trách nhiệm xem xét, quyết định chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân  cấp huyện áp dụng các biện pháp này.

Thứ ba, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền được đọc và ghi chép các nội dung có trong hồ sơ.

Thứ tư, thẩm quyền áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do tòa án nhân dân quyết định.

6. Thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

Về cơ bản, các quy định về Thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Luật đã kế thừa trên cơ sở quy định của Pháp lệnh hiện hành; Luật XLVPHC bổ sung các quy định về quản lý người được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh nhằm giải quyết vướng mắc trong thực tiễn là không có cơ quan, tổ chức nào quản lý người được hoãn, miễn chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính. Theo quy định này, người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ  sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có trách nhiệm trình diện với chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú phải có sự đồng ý của các  cơ quan, tổ chức nêu trên. Trong thời gian được hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành quyết định, nếu đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh trật tự, an toàn xã hội hoặc có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn thì người đã ra quyết định hoãn hoặc quyết định tạm đình chỉ hủy bỏ quyết định đó và ra quyết buộc chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh. Luật XLVPHC cũng bổ sung quy định về việc đưa người không xác định được nơi cư trú là người chưa thành niên, người ốm đau không còn khả năng lao động đã chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính về Trung tâm bảo trợ xã hội tại địa phương nơi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh đóng trụ sở.

7. Về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính

So với Pháp lệnh, Luật XLVPHC có một số điểm mới sau:

Thứ nhất, tuy cơ bản vẫn giữ nguyên các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính như quy định của Pháp lệnh, song Luật XLVPHC đã bỏ biện pháp “ Bảo lãnh hành chính”; đồng thời, bổ sung hai biện pháp là: áp giải người vi phạm và giao cho gia đình, tổ chức quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Theo đó, nếu người vi phạm không tự nguyện chấp hành yêu cầu của người có thẩm quyền thì áp giải trong các trường hợp: bị tạm giữ người theo thủ tục hành chính; đưa trở lại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc trong trường hợp người đang chấp hành tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn. Quy định này xuất phát từ thực tế thời gian vừa qua, nhiều đối tượng vi phạm có hành vi chống đối thi hành công vụ hoặc bỏ trốn khỏi địa phương, trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc. Luật quy định người có thẩm quyền đang thi hành công vụ thực hiện việc áp giải người vi phạm.

Thứ hai, về thủ tục, Luật XLVPHC quy định cụ thể, đầy đủ và chặt chẽ hơn thủ tục áp dụng các biện pháp này như quy định về: tạm giữ người theo thủ tục hành chính, tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy tờ, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính, việc xử lý tang vật, phương tiện, giấy tờ, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính, v.v…

Thứ ba, về thẩm quyền, với mục đích là để người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc là để bảo đảm cho việc xử lý vi phạm hành chính, mặc dù Luật XLVPHC có sửa đổi, bổ sung thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, nhưng về cơ bản giữ nguyên tắc chủ yếu là giao thẩm quyền áp dụng các biện pháp này cho cấp cơ sở, đây là một trong những vướng mắc khi thực hiện Pháp lệnh XLVPHC. Theo đó, ngoài việc vẫn giữ chức danh có thẩm quyền áp dụng các biện pháp này như quy định của Pháp lệnh, Luật XLVPHC có bổ sung một số chức danh khác, đặc biệt là một số chức danh của lực lượng CAND,  ví dụ như:

- Về biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính, bổ sung:

+ Trưởng Công an phường;

+ Trưởng Công an cấp huyện;

+ Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về TTXH….

+ Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên, Trạm Trưởng Trạm Công an Cửa khẩu.

- Về biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, bổ sung:

+ Trưởng Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng trạm Công an Cửa khẩu.

+ Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt…

+ Giám đốc Công an cấp tỉnh, Giám đốc Sở cảnh sát phòng cháy, chữa cháy.

+ Cục trưởng cục An ninh chính trị nội bộ, Cục trưởng cjc An ninh kinh tế, Cục trưởng Cục An ninh văn hóa, tư tưởng…

+ Thủ trưởng trực tiếp của chiến sỹ Cảnh sát nhân dân  có quyền tạm giữ 24 giờ, trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không tạm giữ ngay thì tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tẩu tán, tiêu hủy.

8. Những quy định đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính

Từ Điều 133 đến Điều 140 Luật XLVPHC quy định về phạm vi áp dụng, nguyên tắc xử lý, áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nhắc nhở và quản lý tại gia đình.

Đây là quy định mới của Luật XLVPHC, theo đó, Luật XLVPHC đã dành một phần riêng để quy định về chính sách xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính. Xuất phát từ đặc điểm tâm, sinh lý của người chưa thành niên và yêu cầu bảo vệ quyền trẻ em,  Luật XLVPHC quy định theo hướng: trong một số các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng chung cho các đối tượng vi phạm, thì chỉ áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm 03 hình thức xử phạt (cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính) và 4 biện pháp khác phục hậu quả ( buộc khắc phục tình trạng ban đầu; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại; buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc nộp lại số tiền bằng giá trị giá tang vật, phương tiện đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái với quy định của pháp luật). Luật XLVPHC  còn quy định về các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính như nhắc nhở, giám sát tại gia đình, hòa giải tại cộng đồng; điều kiện, thẩm quyền và thủ tục áp dụng các biện pháp thay thế.

Việc Luật XLVPHC dành một chương quy định biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm là một nội dung mới tiến bộ, nhằm bảo về quyền, lợi ích chính đáng của người chưa thành niên; đồng thời, nâng cao trách nhiệm quản lý, giáo dục của gia đình đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính.

9. Điều khoản thi hành

Điều 141 và Điều 142 Luật XLVPHC quy định: Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định thì có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014.

Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, Pháp lệnh XLVPHC số 44/2002/PL-UBTVQH10, Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 và Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh XLVPHC hết hiệu lực, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh tiếp tục có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013./.

Các tin đã đưa ngày: