Lịch sử phát triển - Cổng thông tin điện tử - Sở Xây Dựng - Vĩnh Phúc

Lịch sử phát triển

18/09/2013

Lịch sử phát triển ngành xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc

 

01/6/2017

Ngày 29-4-1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kỹ sắc lệnh thành lập Bộ Kiến Trúc, nay là Bộ Xây Dựng. Ngày đó đã trở thành ngày truyền thống của ngành xây dựng Việt Nam. Vào thời điểm đó, UBHC tỉnh Vĩnh Phúc đã thành lập Ty kiến trúc, tiền thân của Sở Xây dựng ngày nay.

Lúc mới thành lập, cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành còn rất nghèo nàn, chưa có gì đáng kể. Tổng số CBCNV trong ngành rất ít ỏi, phần lớn là Bộ đội và thanh niên xung phong chuyển ngành sang làm nhiệm vụ xây dựng. Ngay từ khi ra đời, ngành xây dựng Vĩnh Phúc đã sớm ổn định tổ chức, bám sát chủ trương, nhiệm vụ của Tỉnh uỷ, UBHC tỉnh và của Bộ Kiến trúc, thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của tỉnh.

Về lực lượng xây lắp, lúc đầu chỉ có đội công trình Vĩnh Phúc làm nhiệm vụ thi công xây dựng các Trụ sở cơ quan của tỉnh tại khu vực Vĩnh Yên và tổ thị chính Phúc Yên trực thuộc Ty kiến trúc làm nhiệm vụ vệ sinh cống rãnh, đường phố. Tháng 2-1960 Công ty kiến trúc Vĩnh Phúc được thành lập trên cơ sở đội công trình Vĩnh Phúc: Sau này là công ty xây dựng 2 Vĩnh Yên. Cùng thời điểm đó, ban kiến thiết Vĩnh Phúc ra đời trực thuộc Ty kiến trúc làm nhiệm vụ quản lý đầu tư XD các công trình của tỉnh.

Về sản xuất vật liệu xây dựng, lúc đầu ngành xây dựng Vĩnh Phúc chỉ có cơ sở sản xuất gạch Vĩnh Yên với 2 lò thủ công, sản lượng không đáng kể. Sau đó được tiếp nhận một số cơ sở sản xuất gạch ngói của Ty Công nghiệp và Ty Thương nghiệp chuyển sang. Đó là các xí nghiệp gạch: Vị Thanh, Kim Long (Tam Đảo), Tư Chỉ (Yên Lạc), Cầu Xây (Kim Anh) các xí nghiệp vôi: Vĩnh Yên, Bạch Hạc, Yên Thạch, Cam Giá, các công trình cát sỏi: Liễn Sơn, Tứ Yên, Đa Phúc và cây số 6 Tam Đảo.

Đến tháng 3 năm 1960 Công ty VLXD Vĩnh Phúc được thành lập trên cơ sở sát nhập các Xí nghiệp gạch ngói, vôi, cát sỏi trong ngành. Lúc đó, ngành Xây dựng có 3 Công ty SXVLXD. Công ty kiến trúc và trạm cung ứng vận tải để phục vụ vận chuyển vật liệu cho các công trình xây dựng trong tỉnh.

Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), ngành xây dựng được đầu tư xây dựng một số xí nghiệp gạch ngói có trang bị bán cơ giới. Xí nghiệp gạch ngói Quất Lưu, Đoàn Kết, Thái Hoà được mở rộng và xây dựng mới, xí nghiệp gạch Cầu Xây, Kim Long, xí nghiệp ngói Tam Canh, xí nghiệp vôi Vĩnh Yên, Yên Thạch, Bạch Hạc được mở rộng để cung cấp vôi cho xây dựng và phục vụ nông nghiệp cải tạo đồng ruộng. Thời kỳ này, nhà máy gạch Bồ Sao của Bộ cũng được gấp rút xây dựng để phục vụ xây dựng khu công nghiệp Việt Trì: Sau chuyển cho ngành Xây dựng Vĩnh Phúc quản lý.

          Để cung cấp nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân năm 1961 ngành được đầu tư xây dựng Nhà máy nước Vĩnh Yên lúc đầu chỉ có 2 giếng bơm Đầm Vạc, công suất khai thác còn thấp. Sau đó, công trình cấp nước Phúc Yên cũng được xây dựng phục vụ cho thị trấn Phúc Yên và Xuân Hoà.

Thi đua làm theo lời Bác Hồ căn dặn khi Bác về thăm Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc tháng 3 năm 1963 là “Phải xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một trong những tỉnh giàu mạnh, phồn vinh nhất miền Bắc”, ngành xây dựng Vĩnh Phúc luôn luôn chăm lo xây dựng các điển hình tiên tiến, phát huy phong trào sáng kiến, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng.

Năm 1965 đế quốc Mỹ đã tiến hành mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc, giặc Mỹ đã ném bom đánh phá ác liệt xuống nhiều cơ sở của ngành xây dựng Vĩnh Phúc, phá huỷ nhiều nhà xưởng, tài sản, công trình của ngành xây dựng tại xí nghiệp vôi Vĩnh Yên. Công trường thi công nhà bảo tàng Vĩnh Yên, khu nhà ở của công nhân xây dựng tại công trường nhà máy chè Kim Long. Công trường Cầu Thịnh Kỷ Hương Canh, xí nghiệp Vôi Bạch Hạc, công trường cát sỏi Bạch Hạc, Đa Phúc, Xí nghiệp gạch Cầu Xây, công trường Sân Bay Đa Phúc, xưởng cơ khí Kim Anh…

Sản lượng gạch ngói có năm đạt 14-15 triệu viên. Hàng trăm công trình xây dựng được mọc lên, trong đó có hàng chục công trình hầm hào, lán trại sơ tán do ngành xây dựng cho Trung ương, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh và các ban, ngành của tỉnh Đồng Quế, Tân Phong, Đồng Cương, Phú Mỹ. Trại Vải Can bi (Phú Xuân). Kho dù cây số 13 Tam Đảo, kho mìn và kho lưu trữ tài liệu làng Han, Ngọc Mỹ. Đắp hàng chục ụ pháo, bệ tên lửa cho bộ đội ở Bồ Sao, Bình Định, Trung Nguyên, Liễu Trì… Xây dựng bệnh viện Tân Phong xây dựng trường học sinh miền nam ở cây số 8, cây số 13, ở Tân Phong. Xây các khu điều dưỡng cán bộ miền nam ở Đạo Tú, Trung Mỹ.

Ngành xây dựng cũng đã xây dựng hàng chục công trình kinh tế trong những năm đáng Mỹ như: Nhà máy hoa quả Tam Dương, xí nghiệp ép dầu Ngoại Trạch, xí nghiệp tinh bột Liễn Sơn, trạm máy kéo Vũ Di, Nguyệt Đức; cơ khí Lập Thạch, Vĩnh Tường, Tam Dương, nhà máy đường Quyết Tiến (Mê Linh), nhà máy cơ khí Vĩnh Phúc, xí nghiệp xứ Định Trung, xí nghiệp bánh kẹo Vĩnh Yên… Tổ chức gần 100 cán bộ công nhân viên lên xây dựng giúp tỉnh bạn Cao Bằng: Xây chợ Thị xã, nhà máy Hoa Quả, nhà máy điện Cao Bằng và xây dựng nhà máy phân đạm cho tỉnh Bắc Giang. Năm 1968 hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phú, ngành xây dựng Vĩnh Phúc được thành lập. Với đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn được giải phóng, đất nước được thống nhất, cả nước cùng đi lên xây dựng CNXH. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Ngành xây dựng đã tập chung xây dựng thành phố Việt Trì là tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phú, như xây dựng trụ sở các cơ quan của tỉnh, khu nhà ở 5 tầng Hoà Phong, Gia Cẩm, Khách Sạn: Sông Lô, Hoà Bình… khu vực Vĩnh Phúc xây dựng mới nhà máy Hoa quả hộp Tam Dương, Nông trường Tam Đảo, xí nghiệp Mộc Cầu Oai, xí nghiệp thức ăn gia súc Hoà Loan… nhiều trụ sở của các huyện, thị, các trường học, bệnh viên, trạm xá trong tỉnh cũng được xây dựng và cải tạo. Các công trình của TW cũng được xây dựng nhiều nhà máy như: Bê tông, Đạo Tú, gạch Hợp Thịnh, gạch Xuân Hoà, Z 72 Hoàng Đan… Đến Học viện Kỹ thuật Quân sự và các trường Trung học, Đại học như trường cơ khí Việt Xô, trường Đại học Kiến trúc, trường Đại học Sư phạm II, trường Đại học Tài chính… và xây dựng thị trấn Xuân Hoà. Trong giai đoạn này, ngành xây dựng vinh dự được cử một số thợ bậc cao tham gia xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội.

Trong kế hoạch (1981-1985) ngành xây dựng đã xây dựng được nhiều công trình có yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật cao như: Nhà trưng bày Hùng Vương, trạm điện 110 KV Quất Lưu, Chợ Vĩnh Yên, Bưu điện Vĩnh Yên, Tam Đảo… đặc biệt trong 15 năm (từ năm 1981 đến năm 1996) chúng ta đã đưa trên 100 cán bộ công nhân viên sang Lào xây dựng giúp tỉnh Luông Nậm Thà kết nghĩa, hoàn thành xây dựng nhiều công trình được nước bạn đánh giá cao.

Từ năm 1986 đến 1997, thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngành đã chú trọng đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước trong xây dựng cơ bản. Công nghiệp vật liệu xây dựng phát triển với nhiều chủng loại và chất lượng cao. Công tác  khảo sát thiết kế, quy hoạch và nghiên cứu úng dụng khoa học - kỹ thuật  không ngừng được nâng cao. Công tác xây lắp ngày càng thi công được nhiều công trình chất lượng tốt. Công tác quản lý xây dựng cấp huyện luôn luôn được quan tâm và đạt được nhiều kết quả. Công tác quản lý đô thị, làm tốt vệ sinh đường phố, chiếu sáng và dịch vụ đô thị được thực hiện tốt hơn.

Thực hịên Nghị quyết kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khoá IX, tỉnh Vĩnh Phú được chia tách thành hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Sở xây dựng Vĩnh Phúc được tái lập và bước vào hoạt động từ 1-1-1997.

Từ khi tái lập tỉnh đến 2003, ngành xây dựng Vĩnh Phúc đã nhanh chóng ổn định tổ chức, phát triển nhanh lực lượng, ngành đã có 10 doanh nghiệp nhà nước, 1 Trung tâm quy hoạch và kiểm định chất lượng xây lắp trực thuộc và có một Công ty tư vấn thiết kế kiến trúc thuộc Hội kiến trúc sư Vĩnh Phúc, hai công ty quản lý đô thị thuộc cấp huyện, thị, hàng trăm doanh nghiệp xây dựng tư nhân, Công ty TNHH và cơ sở tư nhân tham gia sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng. Số cán bộ công nhân viên trong các doanh nghiệp nhà nước của ngành năm 2003 đã lên tới 2300 người, tăng 1200 so với năm 1996.

Đến năm 2016 toàn ngành có 450 cán bộ trên đại học, đại học, cao đẳng và trung cấp thuộc các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật, kiến trúc, xây dựng… có trên 1000 công nhân kỹ thuật bậc ba trở lên. Đã chủ trì và phối hợp cùng các ngành đề xuất với UBND tỉnh ra nhiều văn bản pháp quy cụ thể hoá các Nghị định của Chính Phủ, Thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng trong lĩnh vực quản lý ngành.

Trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ từ ngày tái lập tỉnh đến nay,  Ngành Xây dựng luôn được Tỉnh ủy, HĐND-UBND và Bộ Xây dựng quan tâm chỉ đạo về định hướng phát triển và giúp đỡ về lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ. Quốc hội, Chính phủ, Bộ Xây dựng đã ban hành kịp thời nhiều chính sách pháp luật về xây dựng như các Luật Xây dựng, Luật quy hoạch đô thị, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và các Nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện là cơ sở pháp lý để Ngành Xây dựng quản lý Nhà nước về xây dựng theo pháp luật trên địa bàn.

Công tác quản lý quy hoạch, cấp phép xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, quản lý chất lượng công trình, quản lý nhà ở, phát triển khu đô thị… trên địa bàn tỉnh dần dần đã đi vào nề nếp, thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định, chất lượng xây dựng công trình đảm bảo yêu cầu, phát huy hiệu quả sử dụng, tiết kiệm vốn đầu tư xây dựng. Việc phân cấp mạnh trong quản lý xây dựng cho các cấp, các ngành đã tạo sự chủ động và phát huy được tiềm năng, nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành và chủ đầu tư.

Các đơn vị liên quan đến công tác quản lý hoạt động xây dựng đều được tập huấn phổ biến các văn bản QPPL về quản lý xây dựng nhằm nâng nghiệp vụ quản lý quy hoạch xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Các Ban QLDA đã được kiện toàn tổ chức, thành lập theo hướng chuyên nghiệp, trình độ năng lực ngày càng đáp ứng được yêu cầu chuyên môn. Các doanh nghiêp xây dựng trên địa bàn tỉnh tương đối dồi dào về số lượng, đa dạng về ngành nghề, nhân lực lao động có trình độ kinh nghiệm chuyên môn ngày càng cao, trang thiết bị máy móc ngày càng hiện đại do đó chất lượng xây dựng công trình được nâng cao rõ rệt.

Kết quả từ năm 1997 - 2016 ngành xây dựng đã hoàn thành:

- Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch

Quy hoạch xây dựng luôn bám sát định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã được Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Vĩnh Phúc lần thứ 12,13,14 đề ra. Toàn ngành đã tập trung hoàn thành các đồ án quy hoạch xây dựng quan trọng: Điều chỉnh Quy hoạch chung thị xã Vĩnh Yên giai đoạn 2020 với quy mô diện tích xây dựng đô thị là 2.486 ha, dân số dự báo là 150.000 người; điều chỉnh Quy hoạch chung thị xã Phúc Yên giai đoạn 2020 với quy mô dân số 160.000 người trên tổng diện tích quy hoạch đô thị là 1.467 ha; Quy hoạch chung và Quy hoạch chi tiết khu đô thị mới Mê Linh (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt) với quy mô diện tích là 14.075 ha, dân số dự báo là 350.000 người; Quy hoạch chung các huyện lỵ: Mê Linh, Tam Đảo, Tam Dương, Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Yên Lạc và Lập Thạch; Quy hoạch chung các đô thị loại V gồm đô thị Quang Minh, Chi Đông, Gia Khánh, Hợp Châu; Quy hoạch chung khu du lịch Hồ Đại Lải quy mô 2.500 ha, Quy hoạch chung  tỷ lệ 1/2000 khu đô thị mới Mê Linh quy mô 2.000 ha; Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 Khu công nghiệp Quang Minh, Khu công nghiệp Khai Quang, Khu công nghiệp Bình Xuyên.

Sau khi huyện Mê Linh sát nhập về Thành phố Hà Nội (tháng 8/2008), tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp với Bộ Xây dựng nghiên cứu ý tưởng và báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép lập Quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc, làm tiền đề xây dựng và hình thành thành phố Vĩnh Phúc trong tương lai. Đồ án đã được Bộ Xây dựng thẩm định và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1883/QĐ-TTg ngày 26/10/2011. Đồng thời, để phù hợp định hướng xây dựng hệ thống đô thị và các vùng chức năng trên địa bàn toàn tỉnh, Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng đã được HĐND tỉnh thông qua và được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2358/QĐ-UBND ngày 20/9/2012. Với mục tiêu cụ thể hóa Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh, tiếp tục hoàn thành 03 đồ án Quy hoạch xây dựng vùng phía Bắc, phía Tây, phía Nam đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050. Đây là các đồ án lớn, có ý nghĩa chiến lược cho sự phát triển đô thị Vĩnh Phúc nói riêng, phát triển KT-XH của tỉnh Vĩnh Phúc nói chung; là cơ sở định hướng phát triển đô thị tỉnh Vĩnh Phúc phù hợp với phát triển quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội.

Việc triển khai các đồ án quy hoạch cấp dưới trên cơ sở quy hoạch vùng, quy hoạch chung được duyệt cũng đã được tỉnh Vĩnh Phúc triển khai đồng bộ và có hiệu quả. Đến nay, đã hoàn thành xong 15 đồ án Quy hoạch phân khu theo quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc, 03 đồ án Quy hoạch chung và 03 đồ án Quy hoạch phân khu phát triển đô thị, công nghiệp, du lịch, dịch vụ tại khu vực ven chân núi Tam Đảo, hồ Đại Lải, hồ Vân Trục và một số tuyến đường giao thông quan trọng; Hoàn thành 12 đồ án Quy hoạch chung đô thị loại V và 19 đồ án Quy hoạch chi tiết xây dựng các Khu công nghiệp tập trung với tổng diện tích hơn 5.000 ha, quy hoạch xong 26 khu đất cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thuê với tổng diện tích khoảng 400 ha; Quy hoạch khu du lịch Tam Đảo I, khu du lịch Tam Đảo II, khu di tích danh thắng Tây Thiên, khu du lịch sinh thái Vĩnh Thịnh-An Tường, khu du lịch hồ Đại Lải, khu liên hiệp thể thao; Quy hoạch chi tiết chỉnh trang đô thị và phát triển đô thị trong phạm vi quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc, hai bên các trục đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh. Thực hiện các đồ án quy hoạch đến nay hầu hết trụ sở Đảng uỷ, HĐND, UBND các xã, phường đã được đầu tư xây dựng. Các  công trình hạ tầng xã hội như : Trường học, trạm y tế, nhà văn hoá xã đã được xây dựng mới và cải tạo mở rộng, đạt tỷ lệ trên 80% trên phạm vi toàn tỉnh. Việc đầu tư xây dựng trên địa bàn từ năm 1997 đến nay đã tạo nên sự thay đổi rõ rệt bộ mặt kiến trúc trong tỉnh từ đô thị đến nông thôn. Đã có nhiều công trình kiến trúc đẹp và hiện đại như trụ sở Tỉnh uỷ, trụ sở HĐND-UBND tỉnh, nhà thi đấu thể thao tỉnh, Công viên quảng trường Hồ Chí Minh, Nhà hát tỉnh, khu vui chơi giải trí Sông Hồng Thủ đô, đô thị mới chùa Hà Tiên (Vĩnh Yên), khu du lịch Đại Lải, sân golf Tam Đảo, sân golf Đại Lải, sân golf  Nam Vĩnh Yên...

Ngoài ra để thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh sớm nhất trên cả nước hoàn thành công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới cho toàn bộ 100% xã trên địa bàn toàn tỉnh trong năm 2011, góp phần tạo lập được môi trường sống tốt cho người dân, sử dụng hợp lý đất đai, tài nguyên và đáp ứng các yêu cầu phát triển sản xuất.

- Về phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật và phát triển đô thị

Hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị được đầu tư đồng bộ, cơ bản đáp ứng các yêu cầu dịch vụ thiết yếu cho sản xuất kinh doanh và đời sống sinh hoạt của người dân, đồng thời góp phần quan trọng đối với việc chỉnh trang và mở rộng không gian đô thị, góp phần cải thiện cảnh quan, môi trường sống đô thị.

+ Về hệ thống giao thông đô thị

Hệ thống giao thông đô thị cơ bản đã được hình thành hướng tuyến và được triển khai đầu tư xây dựng tạo thành hệ thống hạ tầng khung theo Quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Các tuyến đường chính đô thị đã hình thành bao gồm:

Các tuyến giao thông đối ngoại như tuyến Quốc lộ 2, tuyến Quốc lộ 2B đã được đầu tư đạt tiêu chuẩn đường cấp II, tuyến Quốc lộ 2C đạt tiêu chuẩn đường cấp III. 

Các tuyến giao thông trục Bắc - Nam, giao thông trục Đông - Tây, giao thông các trục hướng tâm.

Các tuyến đường vành đai: Gồm đường vành đai 1, đường vành đai 2, đường vành đai 3.

Các tuyến đường đô thị: Gồm các tuyến đường liên khu vực, các tuyến nội thị các khu dân cư, khu công sở.

+Về cấp nước đô thị:

 Quy hoạch cấp nước đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 3878/QĐ-UBND ngày 29/12/2014.

 Tổng công suất cấp nước tại các đô thị hiện nay là 82.200 m3/ngđ, tỷ lệ dân cư đô thị được cấp nước sạch đạt khoảng 70%, mức cấp nước bình quân là 115 lít/người/ngđ, tỷ lệ thất thoát khoảng 20%. Hệ thống cấp nước hiện có cơ bản đáp ứng được nhu cầu cấp nước phục vụ cho sản xuất kinh doanh và nước sinh hoạt cho dân cư trên địa bàn. Đang triển khai dự án hợp phần Cải tạo, nâng cấp hệ thống cấp nước Vĩnh Yên sử dụng nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản, dự kiến hoàn thành và đưa vào khai thác cuối năm 2016, nâng công suất của hệ thống cấp nước đô thị lên 112.200 m3/ngđ, đảm bảo đáp ứng đủ nước sinh hoạt cho người dân theo tiêu chuẩn.

 Nhà máy nước Đức Bác công suất 150.000 m3/ngđ đang được các nhà đầu tư quan tâm, dự kiến đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).

+Về thoát nước thải đô thị

 Đã Quy hoạch cấp nước đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 đã được UBND tỉnh phê duyệt, Hệ thống thoát nước mưa đã được đầu tư xây dựng ở các đô thị như Vĩnh Yên, Phúc Yên, nhìn chung việc tiêu thoát nước mưa dựa trên hệ thống các các sông, hồ trong phạm vi từng khu vực do đó vẫn còn xảy ra tình trạng ngập úng cục bộ tại một số điểm trong đô thị khi có mưa to kéo dài.

 Hệ thống hạ tầng thu gom và xử lý nước thải thải tập trung đã được đầu tư tại thành phố Vĩnh Yên công suất 5.000 m3/ngđ (giai đoạn 1) bằng nguồn vốn ODA Nhật Bản, phục vụ cho các phường Ngô Quyền, Đống Đa, Liên Bảo và Khai Quang. Ngoài ra tại các Khu công nghiệp tập trung, nhà đầu tư kinh doang hạ tầng đã và đang xây dựng các khu xử lý nước thải công nghiệp trước khi thải ra môi trường. Các doanh nghiệp đầu tư trong khu công nghiệp đều có hệ thống thoát nước thải riêng cho từng nhà máy, nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn quy định trước khi xả thải vào hệ thống chung.

 Đang tổ chức triển khai chuẩn bị đầu tư các dự án Quản lý nguồn nước và Ngập lụt Vĩnh Phúc sử dụng vốn vay Ngân hàng Thế giới, dự án thoát nước và xử lý nước thành phố Vĩnh Yên (giai đoạn 2), dự án đấu nối nước thải cấp 3 cho 04 phường Ngô Quyền, Đống Đa, Liên Bảo và Khai Quang của thành phố Vĩnh Yên, dự án cải tạo và xây dựng mới một số tuyến cống chống ngập úng cục bộ tại thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên nhằm cụ thể hoá định hướng thoát nước đô thị theo quy hoạch chung đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

+Về môi trường đô thị

 Về quy hoạch khu sử lý chất thải rắn tập trung trên địa bàn tỉnh đã thực hiện quy hoạch các Khu xử lý gồm: Khu xử lý chất thải rắn tập trung tại huyện Bình Xuyên, công suất 500 tấn/ngày; Khu xử lý chất thải rắn tại huyện Tam Dương, công suất 500 tấn/ngày; Khu xử lý chất thải rắn tại huyện Vĩnh Tường, công suất 300 tấn/ngày; Khu xử lý CTR tại huyện Lập Thạch, công suất 500 tấn/ngày; Khu xử lý chất thải rắn thị trấn Hợp Hòa (huyện Tam Dương) công suất 150 tấn/ngày. Ngoài ra để giải quyết xử lý rác thải giai đoạn ngắn hạn, các lò đốt rác công suất nhỏ quy mô liên xã đã được quy hoạch xây dựng

 Về đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải tập trung: Đến nay mới có Khu xử lý CTR thị trấn Hợp Hòa - huyện Tam Dương được UBND tỉnh Vĩnh Phúc quyết định chủ chương đầu tư Nhà máy xử lý rác công suất 150 tấn/ngày cho Công ty Cổ phần Môi trường công nghệ Việt (giai đoạn 1 là 75 tấn/ngày). Các Khu xử lý chất thải rắn tập chung khác vẫn chưa thực hiện được, nguyên nhân do khó khăn trong việc bố trí địa điểm triển khai dự án, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể việc triển khai Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ trong chính sách ưu đãi hỗ trợ đầu tư nhà máy rác thải...

 Công tác thu gom, xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh đã đạt được kết quả nhất định, cụ thể: tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn đạt 90% đối với chất thải rắn sinh hoạt đô thị, đạt 69% đối với chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn, đạt 100% đối với CTR công nghiệp và đạt 100% đối với chất thải rắn y tế nguy hại.

+ Về phát triển đô thị:

 Chương trình phát triển đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2566/QĐ-UBND ngày 08/8/2016. Đây là một chương trình lớn, quan trọng ảnh hưởng đến chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và phát triển đô thị của tỉnh, là kim chỉ nam cho công tác lãnh chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND- UBND tỉnh về phát triển đô thị của tỉnh trong suốt các nhiệm kỳ từ nay đến năm 2030.

 Việc nâng cấp phân loại đô thị: Đến nay thành phố Vĩnh Yên đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đô thị loại II, thị xã Phúc Yên đã được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. HĐND tỉnh thông qua đề án phân loại đô thị loại V của các xã trên địa bàn tỉnh và được UBND tỉnh công nhận 10 xã là đô thị loại V (gồm: Hợp Châu, Đạo Đức, Bá Hiến, Quất Lưu, Thượng Trưng, Tân Tiến, Tam Hồng, Hợp Thịnh, Kim Long và Sơn Đông), nâng tổng số lên 22 đô thị loại V trên toàn tỉnh. 

- Về quản lý nhà ở và thị trường bất động sản

 + Công tác xây dựng chính sách về nhà ở

Thực hiện các chính sách về nhà ở xã hội do Trung ương ban hành, ngành Xây dựng đã tham mưu đề xuất với UBND tỉnh ban hành một số cơ chế hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh, cụ thể như sau:

 Đề xuất UBND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành cơ chế hỗ trợ thí điểm chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng, san nền cho các dự án nhà ở xã hội; cho phép dự án được sử dụng một phần diện tích đất ở làm nhà ở thương mại… (như đối với dự án Khu nhà ở thu nhập thấp Vinaconex Xuân Mai, Khu nhà ở công nhân phường Khai Quang) để thu hút các nhà đầu tư tham gia xây dựng và giảm giá nhà ở xã hội.

 Tham mưu với HĐND và UBND tỉnh ban hành Nghị quyết số 89/NQ-HĐND ngày 16/7/2013 của HĐND tỉnh; Quyết định số 2027/QĐ-CT ngày 06/8/2013 của UBND tỉnh phê duyệt Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 làm cơ sở để triển khai các dự án nhà ở. Theo đó việc thực hiện Chương trình phát triển nhà xã hội được tổ chức triển khai cho từng nhóm đối tượng.

 Về hỗ trợ dự án nhà ở xã hội: HĐND-UBND tỉnh đã ban hành các Nghị quyết, Quyết định về hỗ trợ việc đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân và người có thu nhập thấp giai đoạn 2015-2020 để hỗ trợ giảm giá cho người thu nhập thấp mua nhà ở xã hội (HĐND tỉnh có Nghị quyết 90/2013/NQ-HĐND và Nghị quyết 159/2014/NQ-HĐND, UBND tỉnh có Quyết định số 2032/QĐ-CT).

 Về hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo: UBND tỉnh đã ban hành các Quyết định phê duyệt Đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc để tăng cường an sinh xã hội (QĐ số 1097/QĐ-UBND ngày 20/04/2009 và QĐ số 743/QĐ-UBND ngày 7/3/2016).

 Về hỗ trợ nhà ở đối với người có công: UBND tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt đề án hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở trên địa bàn tỉnh (QĐ số 2390/QĐ-UBND ngày 30/8/2013).

Về nhà ở học sinh sinh viên: UBND tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt đề án nhà ở cho học sinh, sinh viên các Trường Đại học, Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2010-2015 (QĐ số 271/QĐ-UBND ngày 29/01/2010).

Về quy trình thủ tục mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội: UBND tỉnh đã ban hành Quyết định quy định trình tự thủ tục xét duyệt đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà ở thu nhập thấp và Quy định về trình tự, thủ tục xét duyệt, tiêu chí lựa chọn đối tượng được mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (QĐ số 38/2010/QĐ-UBND ngày 22/12/2010, QĐ số 45/2014/QĐ ngày 6/10/2014).

+ Kết quả xây dựng nhà ở

 Nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp: Đã đầu tư 02 dự án nhà ở công nhân tại thị xã Phúc Yên và thành phố Vĩnh Yên bằng nguồn vốn xã hội hóa với tổng số hơn 500 căn hộ. Đang thực hiện dự án xây dựng Khu nhà ở công nhân tại xã Bá Hiến diện tích là 34,77 ha.

 Nhà ở cho người có thu nhập thấp: Đã đầu tư 04 dự án nhà ở cho người có thu nhập thấp thị xã Phúc Yên và thành phố Vĩnh Yên bằng nguồn vốn phát triển của các doanh nghiệp với tổng số hơn 1.000 căn hộ. Đang chuẩn bị đầu tư 01 dự án nhà ở cho người có thu nhập thấp tại phường Xuân Hoà, thị xã Phúc Yên với quy mô 115 căn hộ bằng vốn hỗ trợ của Chính phủ.

 Nhà ở cho sinh viên: Giai đoạn 2009-2011 trên địa bàn tỉnh đã đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng 04 dự án nhà ở sinh viên với tổng quy mô sử dụng đất 1,6104 ha, sử dụng nguồn vốn trái phiếu chính phủ. Đáp ứng chỗ ở cho 3.954 sinh viên (bao gồm: Kí túc xá trường Đại học CNGTVT, Trường ĐHSP Hà nội 2, Trường Cao đẳng Vĩnh Phúc, Trường Cao đẳng KTKT).

 Về nhà ở cho các đối tượng xã hội khác: Đến nay đã hoàn thành hỗ trợ cho 872 hộ người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở, hiện còn 2.754 hộ chưa được hỗ trợ do thiếu kinh phí.

Đã hỗ trợ được 5.348 hộ nghèo có khó khăn về nhà ở với tổng số tiền 181,079 tỷ đồng bằng nhiều nguồn vốn, đang được tổ chức triển khai kế hoạch đăng ký vay vốn năm 2016 hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo.

Đối với nhà ở cho lực lượng vũ trang đang triển khai 01 dự án với quy mô 326 căn hộ, trong đó dành khoảng 50% số căn hộ cho cán bộ chiến sỹ Quân khu II. Ngoài ra các đơn vị quân đội trên địa bàn tỉnh tự chuyển mục đích và xây dựng một số nhà chung cư để cấp cho cán bộ chiến sỹ của đơn vị như khu nhà chung cư tại Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, khu nhà chung cư 05 tầng tại khu vực Đồi Son, khu nhà chung cư 05 tầng tại phường Hội Hợp

 Nhà ở tái định cư: Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã có dự án khu tái định cư Trại Cúp - Bá Hiến với quy mô 192 căn hộ (tái định cư cho Khu Công nghiệp Bá Thiện), còn lại hầu hết các địa phương đều thực hiện việc quy hoạch, cấp đất ở tái định cư cho người dân bị thu hồi đất.

 Nhà ở do người dân tự xây dựng: Tổng số nhà ở do người dân tự cải tạo, sửa chữa đến nay là 2.371.794 m2 sàn, nhà ở thương mại và nhà ở do dân tự xây chiếm khoảng 2.301.299 m2 (trên tổng số 5.270.653 m2 sàn).

 Nhà ở tại các khu đô thị mới, khu chức năng đô thị: Đến nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có 62 dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, khu chức năng đô thị (được đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước) đã giao chủ đầu tư với tổng diện tích sử dụng đất 2.925 ha; trong đó 51 dự án đã được chấp thuận đầu tư với tổng diện tích sử dụng đất 2.236 ha, sau khi hoàn thiện các dự án này sẽ đáp ứng chỗ ở cho khoảng 158 nghìn người với tổng mức đầu tư khoảng 32,5 nghìn tỷ đồng. Chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân trên địa bàn tỉnh là: 21,7 m2/người trong đó đô thị 26,0 m2/người và nông thôn 20,1 m2/người.

- Công tác quản lý đầu tư xây dựng

Công tác quản lý đầu tư xây dựng liên tục được hoàn thiện trên cơ sở điều chỉnh, bổ sung các chính sách về quản lý dự án đầu tư, đổi mới căn bản cơ chế quản lý đầu tư xây dựng để đảm bảo công trình đầu tư có hiệu quả, tiết kiệm và chống thất thoát lãng phí vốn trong đầu tư, nhất là nguồn vốn Nhà nước. Đặc biệt từ năm 2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 về quản lý chất lượng công trình nhằm chấn chỉnh và quản lý chặt chẽ chất lượng công trình trong các lĩnh vực khảo sát xây dựng, thiết kế, thi công, nghiệm thu công trình; quản lý về an toàn, giải quyết sự cố thi công, khai thác sử dụng và bảo hành công trình. Năm 2014, Luật Xây dựng mới được ban hành, sau đó các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ xây dựng cũng được ban hành để thực hiện Luật xây dựng. Đây là sự thay đổi căn bản cách tiếp cận, đổi mới tư tưởng về quản lý chất lượng xây dựng công trình, đây là công cụ hữu hiệu để tăng cường sự kiểm soát của Nhà nước về chất lượng các công trình, dự án nhất là đối với các dự án sử dụng vốn Nhà nước, nâng cao vai trò của các cơ quan quản lý chuyên ngành trong việc kiểm tra, kiểm soát các dự án đầu tư trong các khâu thẩm định dự án, tham gia thiết kế cơ sở, thẩm tra thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công - dự toán công trình.

 Công tác thẩm định dự án, thẩm định thiết kế, dự toán: Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước được thẩm định đúng thẩm quyền, đảm bảo thời gian và chất lượng, tăng hiệu quả đầu tư của dự án, giúp chủ đầu tư và đơn vị tư vấn thực hiện đúng các quy định về đầu tư xây dựng, lựa chọn được phương án đầu tư tối ưu. Qua công tác thẩm tra, thẩm định phát hiện nhiều sai sót trong hồ sơ thiết kế, dự toán như tính toán thiết kế chưa đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành, áp dụng đơn giá, bù giá vật tư chưa theo nội dung công bố. Qua đó đã chấn chỉnh công tác quản lý thiết kế, quản lý chi phí của Chủ đầu tư và đơn vị tư vấn đi vào nề nếp, giúp chủ đầu tư lựa chọn đúng đơn vị tư vấn đủ năng lực thiết kế. Hạn chế đáng kể các lãng phí trong khâu thiết kế, tiết kiệm và làm tăng hiệu quả vốn đầu tư xây dựng, chống thất thoát lãng phí trong đầu tư (chỉ tính từ năm 2013 đến nay, thông qua công tác thẩm định đã tiết giảm hàng 1.000 tỷ đồng từ các dự án sử dụng nguồn vốn nhà nước, tỷ lệ bình quân giảm khoảng 16% so với giá trị chủ đầu tư trình).

 Về lập và công bố đơn giá, giá vật liệu xây dựng, chỉ số giá xây dựng: Trên cơ sở định mức do Bộ Xây dựng ban hành, đã tổ chức lập và công bố nhiều bộ đơn giá xây dựng đồng thời kết hợp với Sở Tài chính công bố giá vật liệu xây dựng hàng tháng, chỉ số giá xây dựng để các tổ chức, cá nhân tham khảo phục vụ cho việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh.

 Về quản lý năng lực tư vấn: Đến nay đã cấp được 926 chứng chỉ hành nghề các loại, công bố được 57 đơn tư vấn đủ năng lực tham gia hoạt động xây dựng lên trang Website của Sở Xây dựng Vĩnh Phúc và Bộ Xây dựng. Việc cấp chứng chỉ hành nghề và đăng tải thông tin năng lực đã góp phần vào vào việc quản lý năng lực hoạt động của các tổ chức và cá nhân hoạt động xây dựng, giúp các chủ đầu tư lựa chọn được các nhà thầu đủ năng lực, đáp ứng chất lượng thiết kế, thi công công trình.

- Công tác quản lý chất lượng và vật liệu xây dựng

Chính sách về quản lý chất lượng công trình có nhiều thay đổi nội dung quản lý để phù hợp với thực tiễn, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước. Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng luôn được quan tâm, chỉ đạo quyết liệt và kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý đồng thời uốn nắn, nhắc nhở hoặc xử lý các chủ đầu tư vi phạm về quản lý chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn theo các quy định của cấp có thẩm quyền.

 Đã đã tiến hành kiểm tra chất lượng xây dựng nhiều công trình, hạng mục công trình trong lĩnh vực chuyên ngành quản lý, qua công tác kiểm tra đã kiến nghị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo và sử lý vi phạm đối với nhiều chủ đầu tư và các nhà thầu liên quan trong quá trình triển khai công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng.

Lĩnh vực quản lý, khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng từ khi tái lập tỉnh (năm 1997) đến nay có bước phát triển mạnh mẽ. Các sản phẩm vật liệu xây dựng không ngừng tăng lên về công suất và chất lượng sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu xây dựng trên địa bàn tỉnh và các vùng lân cận. Đến nay đã lập xong và phê duyệt quy hoạch vật liệu xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc, quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên cát sỏi đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Một số sản phẩm chính về vật liệu xây dựng đã đạt được như sau: Đá xây dựng hiện có 06 mỏ, tổng công suất 1.650.000 m3/năm. Gạch tuy nen hiện có 13 cơ sở sản xuất, tổng công suất 595 triệu viên/năm, gạch không nung hiện có 10 cơ sở sản xuất, tổng công suất 175 triệu viên/năm. Gạch ốp lát hiện có 01 tập đoàn và 03 cơ sở sản xuất, tổng công suất 90 triệu m3/năm. Cát xây và cát san lấp hiện có 15 doanh nghiệp khai thác, tổng công suất 1.750.000 m3/năm. Bê tông cấu kiện và bê tông tươi hiện có 04 cơ sở sản xuất, tổng công suất 440.000 m3/năm.

Việc phát triển gạch xây không nung đang được triển khai đúng lộ trình đã đề ra, từng bước hạn chế sản xuất và sử dụng gạch đất sét nung, tiến tới xóa bỏ các lò gạch đất nung để đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường. Hiện nay Ngành XD đang tăng cường công tác quản lý, khuyến kích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất vật liệu xây không nung (VLXKN), công bố giá sản phẩm, xây dựng định mức đơn giá và tiêu chuẩn sản phẩm VLXKN để tiến tới đáp ứng được đầy đủ các điều kiện khi sử dụng toàn bộ loại sản phẩm này trên địa bàn tỉnh.

Ghi nhận công lao thành tích của ngành Xây dựng Vĩnh Phúc trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã tặng thưởng cho toàn ngành: huân chương lao động hạng ba; Huân chương lao động hạng nhì năm 2003, huân chương lao động hạng nhất năm 2007, 7 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, nhiều cờ thi đua của Chính Phủ; Cờ thưởng và Bằng khen của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, UBND tỉnh, Bộ Xây dựng, Công đoàn Xây dựng Việt Nam và của TW đoàn TNCSHCM, 770 cán bộ công nhân viên trong ngành đã được Bộ Xây dựng tặng huy chương vì sự nghiệp xây dựng.

Đặc biệt, để ghi nhận thành tích của Ngành Xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc sau 55 năm xây dựng và trưởng thành, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tặng thưởng Huân chương độc lập hạng Ba năm 2013 cho Ngành Xây dựng Vĩnh Phúc.

 

 

Các tin đã đưa ngày: