Sức mạnh diệu kỳ của “khoán chui" - Cổng thông tin điện tử - Sở Xây Dựng - Vĩnh Phúc

Sức mạnh diệu kỳ của “khoán chui"

09/10/2017

Hướng tới kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc (10/10/1917-10/10/2017), người dân Vĩnh Phúc nhớ tới ông với tấm lòng thành kính, trân trọng, tự hào và biết ơn, bởi ông là người đi trước thời gian, cha đẻ của “khoán hộ” - hướng đi tích cực trong việc tìm cách làm mới, quản lý mới đem lại hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn – một trong những cơ sở để Đảng ta đề ra Chỉ thị 100 và Nghị quyết 10 làm thay đổi căn bản nền kinh tế nông nghiệp cả nước.

Cấm “khoán hộ”, nông dân Vĩnh Phúc “làm chui”

Lật giở cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, các tài liệu nghiên cứu về Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc và qua hồi ức của nhiều người, những thế hệ sinh sau như chúng tôi hiểu rõ hơn về người Bí thư Tỉnh ủy đáng kính. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình bần nông, có tinh thần yêu nước, trong suốt gần 40 năm tham gia cách mạng, nhất là từ khi giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy, với ước vọng, niềm ham muốn, say mê lớn nhất là đem lại ấm no cho người dân, để nhân dân đóng góp ngày càng nhiều cho Tổ quốc, Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đổi mới, sáng tạo “đi trước thời gian”, trong đó có chủ trương “khoán hộ”.  

Đó là vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, các HTX nông nghiệp phát triển rất chậm và cung cách làm ăn theo kiểu “tối ngày đầy công”, “dong công, phóng điểm” của bà con nông dân diễn ra phổ biến, đời sống nhân dân gặp khó khăn, thiếu đói diễn ra thường xuyên. Đây cũng là thời điểm bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc.  

Để dân có cơm ăn và có lương thực chi viện cho chiến trường miền Nam, ngày 10/9/1966, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã ban hành Nghị quyết số 68 “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong các hợp tác xã hiện nay”. Nghị quyết này đề ra phương thức quản lý sản xuất của HTX với nhiều cách khoán như: Khoán cho hộ làm 1 khâu hoặc nhiều khâu; khoán cho hộ các khâu dài ngày hoặc suốt vụ; khoán sản lượng cho hộ, cho nhóm; khoán trắng ruộng đất cho từng hộ. Bước đầu được triển khai thí điểm tại HTX thôn Thượng, Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường. Với hình thức khoán gọn, đơn giản, dễ tính toán và thực chất của cách khoán này là trao ruộng đất trở về cho từng hộ nông dân nên ngay sau đó, hình thức khoán này được nông dân khắp các địa phương hưởng ứng rầm rộ, trở thành phong trào quần chúng rộng rãi trong toàn tỉnh lúc bấy giờ.  

Sau 1 năm làm khoán hộ, bộ mặt nông nghiệp của Vĩnh Phúc đã thay đổi nhanh chóng. Năm 1967, toàn tỉnh có 75% số HTX, 76% số đội sản xuất áp dụng hình thức khoán theo Nghị quyết 68 của Tỉnh ủy. Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 222.000 tấn, tăng 4.000 tấn so với năm 1966. Toàn tỉnh có 2 huyện, 46 xã và 160 HTX (chiếm hơn 70% HTX) đạt năng suất lúa từ 7 tấn/1ha. Tuy nhiên, cách “khoán hộ” của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc đã bị các tư duy giáo điều lúc bấy giờ “lấn át”. Ngày 6/11/1968, tại hội nghị cán bộ tỉnh Vĩnh Phú (sau khi sáp nhập tỉnh Phú Thọ và tỉnh Vĩnh Phúc), chủ trương “khoán hộ” đã bị phê phán hết sức nặng nề. Hội nghị kết luận rất nhiều nội dung như: “Việc khoán ruộng cho hộ đã dẫn đến hậu quả tai hại là phát triển tư tưởng tư lợi, làm phai nhạt ý thức tập thể của xã viên, thủ tiêu phong trào thi đua yêu nước trong HTX; kìm hãm và đẩy lùi cách mạng kỹ thuật trong nông nghiệp; phục hồi và phát triển lối làm ăn riêng lẻ, đẩy HTX vào con đường thoái hóa và tan rã”…

Ngay sau đó, ngày 12/12/1968, Trung ương ra Thông tư số 224 “về chấn chỉnh công tác ba khoán và quản lý ruộng đất của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở một số địa phương” cũng nhận định việc khoán hộ ở Vĩnh Phú là buông lỏng quản lý, khoán trắng ruộng đất, khoán cả công cụ sản xuất cho hộ dẫn đến tư hữu hoá, trái với đường lối HTX của Đảng, phá vỡ nguyên tắc quản lý xã hội chủ nghĩa, phục hồi kinh tế cá thể tư bản chủ nghĩa… 

Mặc dù “khoán hộ” không được Trung ương khuyến khích phát triển do ra đời vào thời điểm không phù hợp với xu thế ở miền Bắc đang trong thời kỳ đẩy mạnh phong trào HTX hóa nông nghiệp, nhưng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cuộc sống và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với tính hiệu quả của Nghị quyết 68 của Tỉnh ủy mang lại, sau khi các đoàn sửa sai của tỉnh về các địa phương chấn chỉnh “khoán hộ” rút đi, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh lại tiến hành “khoán chui”. Đặc biệt, nhờ sản xuất theo phương thức “khoán chui”, tình hình sản xuất nông nghiệp của tỉnh từ năm 1969 đến năm 1975 ổn định và có bước phát triển. Đời sống của bà con nông dân ngày càng được cải thiện. Tổng sản lượng lương thực toàn tỉnh liên tục tăng qua các năm, từ 206.369 tấn năm 1970 tăng lên 394.000 tấn năm 1972 và 456.997 tấn năm 1974. Năm 1970, lần đầu tiên Vĩnh Phúc đạt 3 mục tiêu trong sản xuất nông nghiệp (5 tấn thóc, 2 con lợi và 1ha gieo trồng)/1 lao động. Trong 5 năm, giai đoạn 1971-1975, toàn tỉnh trồng thêm được 9.100 ha rừng, với hơn 71 triệu cây, bằng 25% tổng diện tích trồng trong 15 năm (1955-1970). Cùng với trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm ngày càng phát triển ở cả khu vực tập thể và hộ gia đình. 

“Khoán chui”- dân có cơm ăn, cơ sở để Đảng đề ra Chỉ thị 100 và Nghị quyết 10 

Có dịp ngược xuôi nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh những ngày này, chúng tôi được nghe không ít những câu chuyện thú vị về cách làm “khoán chui” của bà con nông dân thời Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc. Gần 50 năm trôi qua, song “khoán chui” và sức mạnh diệu kỳ của cách khoán này vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức của người dân Vĩnh Phúc.  

Đi men theo cánh đồng ngô đông xanh mơn mởn, chúng tôi đến gia đình cụ Nguyễn Thị Chất, thôn Xuôi Phù Lập, nguyên đội trưởng Đội chế biến phân HTX Phù Lập, xã Tam Phúc, huyện Vĩnh Tường. Ở cái tuổi xưa nay hiếm nhưng sức khỏe của cụ rất tốt. Hằng ngày, cụ vẫn nhặt rau, quét dọn nhà cửa, bế chắt nội giúp con cháu. Đặc biệt, cụ vẫn nhớ như in những tháng ngày lăn lộn cùng các xã viên làm phân bón, đưa HTX Phù Lập trở thành đơn vị dẫn đầu toàn miền Bắc về làm phân bón và được Tổng Bí thư Trường Chinh nhắc đến trong 1 bài thơ dưới bút danh là Sóng Hồng khi về thăm Vĩnh Phúc năm 1865-1967: 

“Phù Lập làm phân thật khác thường

Phương Trù thủy lợi đáng nêu gương

Chăn nuôi tập thể Hòa Loan giỏi

Cây rợp bên đường thôn Lạc Trung” 

Với giọng nói sang sảng, cụ Chất cho biết, năm 1964, thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy về cải tiến quản lý HTX và cải tiến kỹ thuật trong nông nghiệp, để có phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp, HTX Phù Lập đề ra kế hoạch rất cụ thể quy định tới từng con gia súc, từng hộ gia đình và độ tuổi để tận thu triệt để các loại phân trâu, phân lợn, phân gà, tro bếp, nước giải cung cấp cho đồng ruộng. Tại 13 đội sản xuất của HTX Phù Lập và HTX Liên Hoàn đều xây dựng các khu chăn nuôi, khu chế biến  phân theo phương pháp khoa học nên số lượng, chất lượng phân của HTX tăng lên rõ rệt. Đặc biệt, ngoài phân chuồng, HTX Phù Lập xác định nguồn phân quan trọng thứ 2 có khả năng phát triển nhanh và giá rẻ là trồng cây điền thanh và mở rộng diện tích thả bèo hoa dâu.

 
Cụ Nguyễn Thị Chất say sưa kể về những ngày làm phân từ bèo hoa dâu 

Theo cụ Chất, quy trình làm phân từ bèo hoa dâu không khó nhưng khá tỉ mỉ. Bởi bèo hoa dâu sinh trưởng, phát triển mạnh vào mùa đông, lụi vào mùa hè, do vậy, để có bèo giống, vào tháng 9, tháng 10, các xã viên trong Tổ chế biến phân sẽ đi nhặt và thu gom từng cánh bèo còn sót lại ở các ao, kênh rạch mang về thả vào các ruộng có nước đã thu hoạch lúa mùa. Để bèo sinh trưởng tốt, các xã viên thường xuyên thăm ruộng, bổ sung nước, tiến hành rắc tro bếp. Khi bèo phát triển đến mật độ nhất định, các xã viên sẽ tiến hành cào, đánh tan các cánh bèo để nhân giống ra diện rộng, sau đó, vớt bèo thả vào cách đồng lúa chiêm. Khi lúa chiêm qua thời kỳ đẻ nhánh, sẽ tiến hành tháo cạn nước để bèo chết làm phân. “Thả bèo hoa dâu có rất nhiều lợi ích. Ngoài giá trị làm phân, bèo còn có tác dụng diệt cỏ, giữ ấm cho lúa, tăng độ tơi xốp cho đất, giúp lúa sinh trưởng, phát triển tốt, bông to, hạt chắc. Với cách làm này, năng suất lúa của HTX Phù Lập năm 1964-1965 đạt 4 đến 5 tạ/ha, cao gấp đôi so với trước”- cụ Chất nói. 

Cũng theo cụ Chất, từ hiệu quả của cách làm phân này, phong trào làm phân từ bèo hoa dâu lan ra nhiều địa phương trong tỉnh. Tại hội nghị toàn miền Bắc về thâm canh tăng năng suất lúa do Bộ Nông nghiệp tổ chức họp tại huyện Vĩnh Tường tháng 6/1965, ông Nguyễn Thế Đề, chủ nhiệm HTX Phù Lập vinh dự được tham luận về phong trào trồng cây, thả bèo hoa dâu làm phân và trồng ngô giỏi. Sau đó, hội nghị tổ chức cho các đại biểu về HTX Phù Lập tham quan mô hình. Tháng 7/1965, HTX Phù Lập được đón một số đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước và một số  HTX ở Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh…đến tham quan, học tập kinh nghiệm quản lý và chế biến phân xanh.  

Ông Nguyễn Văn Ân, nguyên Bí thư Đảng bộ xã Tam Phúc cho biết: Nhờ nông nghiệp phát triển, trong 5 năm (1961-1965), xã Tam Phúc đã đóng góp cho Nhà nước hơn 600 tấn lương thực, 175 tấn thực phẩm, vượt 15% kế hoạch giao. Đặc biệt, để góp công, góp sức cùng cả nước chống chiến tranh phá hoại lần 2 của đế quốc Mỹ và chi viện cho tiền tuyến, sau khi chủ trương “khoán hộ” phải ngừng thực hiện, xã Tam Phúc tổ chức sáp nhập HTX Phù Lập và Liên Hòa thành HTX Phù Lập. Mặc dù HTX đã kiện toàn lại các đội ngành nghề, đội khoa học kỹ thuật, đội sản xuất theo mô hình mới nhưng thực chất vẫn tiến hành “khoán chui” từng khâu, từng việc cho nhóm, cho lao động tùy theo ruộng to, nhỏ, công việc dễ, khó, ít, nhiều. Vì thế, HTX Phù Lập luôn chủ động trong các khâu cày ngả diện tích gieo trồng, làm mạ, làm thủy lợi, làm phân và vươn lên dẫn đầu phong trào thi đua về làm phân, kỹ thuật gieo mạ trong các HTX của huyện Vĩnh Tường năm 1971. Việc “khoán chui” tiếp tục mang lại hiệu quả kinh tế cao, bà con nông dân Tam Phúc không chỉ có cơm ăn mà còn đóng góp hơn 3.800 tấn lương thực, hơn 400 tấn thực phẩm cho tiền tuyến.  

Cũng là 1 trong 4 địa phương điển hình của Vĩnh Phúc trong thực hiện “khoán hộ” rồi đến “khoán chui” gần 50 năm về trước, những năm qua, nhờ sự cần cù, sáng tạo, đổi mới cung cách làm ăn, đời sống vật chất và tình thần của người dân thôn Phương Trù nói riêng, xã Yên Phương, huyện Yên Lạc nói chung ngày càng phát triển. Đây cũng là nhân tố quan trọng, giúp địa phương này hoàn thành xây dựng nông thôn mới vào năm 2015. Trong niềm vui chung của cuộc sống ngày càng đủ đầy hôm nay, người dân Yên Phương chưa quên câu chuyện làm thủy lợi nức tiếng trong và ngoài tỉnh 50 năm trước. 

Cụ Đào Quang Thặng, nguyên chủ nhiệm HTX Phương Trù nhớ lại: Thực hiện chỉ đạo của Huyện ủy Yên Lạc về cải tiến quản lý HTX gắn với quản lý kỹ thuật và giáo dục chính trị tư tưởng cho xã viên, đầu năm 1962, HTX Phương Trù đã tập trung triển khai 2 nhiệm vụ là làm thủy lợi, thiết kế lại đồng ruộng và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Cùng với làm phân bùn, phân xanh, đưa bèo hoa dâu vào đồng ruộng, HTX Phương Trù đã tiến hành đào kênh, xây dựng bờ vùng, bờ thửa, kiến thiết lại đồng ruộng. Mặc dù việc đào kênh, xây dựng bờ vùng, bờ thửa gặp rất nhiều khó khăn do Phương Trù là vùng đất trũng, đất nhão nhưng với quyết tâm quy hoạch lại đồng ruộng, chỉ sau 1 năm, Phương Trù đã hoàn thành việc xây dựng hệ thống thủy lợi, tạo thuận lợi cho việc tưới tiêu và đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp. Nhờ đó, năng suất lúa ngày càng tăng, không chỉ giúp người dân có cơm ăn mà HTX Phương Trù trở thành điển hình tiên tiến được nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh đến học tập kinh nghiệm làm thủy lợi và sản xuất nông nghiệp.  

Theo cụ Thặng, giai đoạn 1969-1975, dù chủ trương “khoán hộ” không tiếp tục được triển khai nhưng vì hiệu quả, lợi ích từ phương thức “khoán hộ” mang lại, Yên Phương vẫn âm thầm chỉ đạo các HTX tiến hành “khoán chui” cho từng tổ, nhóm, từng hộ thực hiện các công đoạn khác nhau, tạo nên những cánh đồng thâm canh thắng Mỹ, cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ. Năm 1975, tổng sản lượng lương thực toàn xã đạt trên 1.140 tấn/năm. Lương thực bình quân đầu người đạt 18-21kg/1 tháng. Địa phương đã thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhà nước, nộp 470 tấn lương thực, 25 tấn thực phẩm các loại, gần 3.000kg gà, vịt; trên 4.000kg cá tươi và trên 10.000 quả trứng vịt.  

Theo cuốn "Những bài viết, bài nói của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc" do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy biên soạn, năm 1968, mặc dù Trung ương cấm việc làm “khoán hộ”, nhưng vì lợi ích của dân, hiệu quả của khoán hộ mang lại, không chỉ có Yên Phương, Tam Phúc mà hầu hết các địa phương trên địa bàn tỉnh vẫn âm thầm chỉ đạo các hộ “làm chui”. Khi đó, hầu hết các thôn không công bố việc làm khoán hộ, nhưng tất cả đã tự bàn bạc, giao ruộng, trâu, bò cho người dân tự sản xuất và cho hiệu quả kinh tế rất cao. 

Thực tiễn “khoán hộ” cũng đã được tổng kết và đưa vào Nghị quyết số 03 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV về phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020. Và cũng chính từ chủ trương “khoán hộ” của đồng chí Kim Ngọc – cơ sở quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn để Đảng ta đề ra Chỉ thị 100 và Nghị quyết 10 làm thay đổi căn bản nền kinh tế nông nghiệp cả nước sau này. 

Đánh giá về đồng chí Kim Ngọc, bên lề hội thảo khoa học “Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc – một con người đổi mới và sáng tạo” được Tỉnh ủy phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức mới đây, PGS.TS Hồ Tố Lương, Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Khoán chui” có một sức mạnh diệu kỳ, bởi năm 1981, khi Ban Bí thư ra Chỉ thị 100 về “khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động” thì đây là giai đoạn bắt đổi mới trong quản lý kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên, đổi mới này của Đảng không phải xuất phát từ lý luận của Đảng mà xuất phát từ sáng tạo của những người nông dân một nắng hai sương trên đồng ruộng và đó chính là “khoán chui”. Nông dân ta no ấm, trước hết là nhờ ơn Đảng, ơn Bác Hồ. Nhưng trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước thì chúng ta phải cảm ơn Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc, một đảng viên sáng tạo, dám chịu trách nhiệm đến cùng trước nhân dân và cũng là người đi trước thời gian, với nhiều chủ trương sáng tạo mang lại lợi ích cho dân, cho đất nước.  

Theo cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Phúc

Các tin đã đưa ngày: